ghép gan

KHI NÀO CẦN PHẪU THUẬT GHÉP GAN?

Ghép gan là một thủ thuật áp dụng để cứu sống các trường hợp bị suy gan hoặc chức năng gan không bình thường. Ghép gan là thủ thuật cắt bỏ những lá gan bị bệnh hoặc bị tổn thương, và thay thế bằng một lá gan khỏe mạnh từ người hiến.

Gan là bộ phận quan trọng của cơ thể, chức năng gan đa dạng, đóng góp lớn cho hoạt động của cơ thể

Gan là một bộ phân rất quan trọng và lớn nhất của cơ thể, vị trí ở khoang bụng trên bên phải, trọng lượng gan khoảng 3 lbs (khoảng 2% trọng lượng cơ thể). Mặc dù là một bộ phận đơn, song cấu tạo gan được chia thành hai phần, thùy phải và trái và 8 phần độc lập, mỗi phần có một nguồn cung cấp máu riêng. Gan luôn cần được giữ khỏe mạnh do gan chịu trách nhiệm thực hiện nhiều chức năng quan trọng trong cơ thể:

  • Là cơ quan chính có chức năng chuyển hóa và loại bỏ các chất có hại trọng cơ thể, chuyển hóa các chất dinh dưỡng từ thực phẩm thành nguồn năng lượng cần thiết cho cơ thể. Gan cũng giúp duy trì cân bằng nội tiết tố;
  • Gan có một động mạch, có nhiệm vụ cung cấp máu có oxy, mọt tĩnh mạch mang máu từ ruột vào gan và cũng dẫn lưu mật hình thành trong gan đi ra. Máu sai đó được chuyển đến tim thông qua 3 tĩnh mạch gan;
  • Là bộ lọc, gan giúp loại bỏ vi khuẩn, độc tố, rượu, một số loại thuốc và tạp chất tạo ra trong cơ thể, nhờ đó giúp cơ thể chống lại và ngăn ngừa nhiễm trùng, điều chỉnh các phản ứng miễn dịch;
  • Tạo ra các chất hoặc các yếu tố cần thiết như glucose (nguồn năng lượng), protein, điều chỉnh quá trình đông máu, thúc đẩy tăng cơ và xây dựng cơ bắp. Gan giúp tạo ra mật – một dạng chất lỏng nằm trong túi mật, có tác dụng hấp thụ cholesterol, chất béo, hoặc vitamin A, D, E, K tan trong chất béo;
  • Lưu trữ các vitamin, khoáng chất, đường cần thiết cho cơ thể. Ngoài ra, gan còn có nhiệm vụ chuyển hóa thực phẩm thành các chất cần thiết cho cơ thể tồn tại và phát triển.

Bệnh gan xuất hiện khi các chức năng cơ bản của gan bị gián ggoanj, gan bị tổn thương và chức năng gan bị suy yếu.

ghép gan

Những dấu hiệu và triệu chứng có thể gặp phải khi gan bị tổn thương

Những trường hợp bị tổn thương gan có thể gặp phải các triệu chứng không đặc hiệu nhưng những tổn thương này có thể trở nên nghiêm trọng khi tổn thương tiến triển do chất độc tích tụ trong cơ thể. Một số triệu chứng có thể gặp phải:

  • Vàng da (xuất hiện trên da và mắt);
  • Đau và sưng vùng bụng, mắt cá chân, chân;
  • Phân và nước tiểu màu nhạt hoặc đậm;
  • Ngứa dữ dội, xuất hiện vết bầm tím;
  • Cơ thể mệt mỏi, suy nhược, buồn nôn hoặc nôn ra máu;
  • Có những biểu hiện bất thường về tâm thần hoặc nhận thức.

Khi nào cần ghép gan?

Ghép gan thường được coi là giải pháp cuối cùng cho các bệnh nhân mắc bệnh gan giai đoạn cuối, đe dọa đến tính mạng và không thể điều trị bằng thuốc. Các yếu tố giúp xác định bệnh nhân đã cần ghép gan hay chưa, gồm có:

  • Tổn thương gan nghiêm trọng;
  • Tình trạng trao đổi chất, thể chất và tinh thần có dấu hiện nghiêm trọng
  • Đánh giá xem việc cấy ghép gan có thể giúp kéo dài cuộc sống cho người bệnh không.

Điều gì gây ra tổn thương gan nghiêm trọng và phải ghép gan?

Một số bệnh và rối loạn chức năng gan có thể gây tổn thương gan nghiêm trọng và cần phải tiến hành ghép gan:

Viêm gan cấp tính và mãn tính

Viêm gan mãn tính với xơ gan: là tình trạng viêm gan kéo dài do nhiễm trùng, viêm gan B, viêm gan C, gan nghiễm mỡ hoặc bia rượu. Những nguyên nhân này dần dần gây tổn thương gan, gây ra suy gan, ung thư gan hoặc xơ gan. Xơ gan là một vết sẹo nghiêm trọng trong gan, là nguyên nhân phổ biến cần ghép gan. Các nguyên nhân này chủ yếu phát triển do gan bị viêm nhiễm hoặc nghiện rươu.

Suy gan cấp: là hiện tượng suy gan đột ngột trong khoảng một tuần do nhiễm virus, độc tố hoặc sử dụng các loại thuốc gây tổn thương cho gan (thuốc điều trị ung thư)

Nhiễm độc

Viêm gan sơ sinh vô căn: là rối loạn chức năng gan và viêm gan ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh, thai nhi, gây ra biến đổi các tế bào trong gan và ống mật. Nguyên nhân có thể do rối loạn di truyền, virus hoặc rối loạn chuyenr hóa xảy ra chủ yếu trong ba tháng đầu đời của trẻ.

Hội chứng Alagille: là hội chứng ống mật, tổn thương ở gan gây ra do những bất thường xảy ra trong ống mật, khiến ống mật bị hẹp, dẫn đến tích tụ mật và sẹo gan, ảnh hưởng đến chức năng gan và các cơ quan khác, bao gồm cả tim. Những bệnh nhân mắc rối loạn này có thể bị vàng da, phát triển kém, tích tụ chất béo, phân lỏng…

Bệnh Byler: là rối loạn ứ mật mãn ính thường xảy ra ở trẻ sơ sinh và có thể dẫn đến xơ gan cho trẻ từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi. Bệnh gây suy gan khi các tế bào gan không thể tiết ra mật (dịch tiêu hóa). Trẻ có thể gặp phải các triệu chứng như ngứa, vàng da, tăng cân, tăng kích thước gan và tăng huyết áp.

Các bệnh về mật sau phẫu thuật

Khối u gan:

Ung thư gan: Là một khối u ung thư hiếm gặp ở gan của trẻ nhỏ, thường ảnh hưởng đến trẻ từ sơ sinh đến 4 tháng tuổi và có thể lan sang các bộ phận khác của cơ thể.

Ung thư biểu mô tế bào gan: Là khối u gan ác tính phổ biến, thường được tìm thất ở những người trưởng thành bị rối loạn chức năng gan mạn tính hoặc các bệnh như xơ gan do viêm gan B hoặc viêm gan C. Các dấu hiệu bệnh thường gặp như giảm cân, vàng da, đau bụng trên, tuy nhiên những dấu hiệu này thường xuất hiện rất muộn ở giai đoạn cuối của bệnh ung thư, và đến lúc này, các bệnh nhân thường được khuyên nên phẫu thuật ghép gan nếu phù hợp.

Viêm mật: Là rối loạn phổ biến nhất, xảy ra do khiếm khuyết ở gan, ống mật, ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh và cần phẫu thuật ghép gan.

ghép gan

Các bệnh chuyển hóa:

Thiếu hụt alpha-1 antitrypsin: Là rối loạn di truyền gây ra các bệnh về gan và phổi. Bệnh do di truyền từ cha mẹ và diễn ra trong khoảng từ 20 đến 50 tuổi, gây ra các tổn thương về gan. Các biểu hiện có thể gặp phải: cảm lạnh, viêm phế quản mã tính, khó thở, sụt cân, thèm ăn, vàng da, nôn ra máu hoặc có máu trong phân.

Bệnh Wilson: Là rối loạn truyền nhiễm hiếm gặp, do những tích tụ bất thường của đồng trong cơ thể tại gan, não và các cơ quan quan trọng khác. Bệnh ảnh hưởng đến gan qua việc cơ thể giải phóng đồng vào mật. Bệnh có thể tiến triển cấp tính, làm hỏng gan và ảnh hưởng đến các cơ quan khác của cơ thể. Bệnh nhân mắc chứng rối loạn này thường bị đau bụng, sưng phù, mệt mỏi, chán ăn, vận động kém, trầm cảm, vàng da.

Bệnh Hemochromatsis ở trẻ sơ sinh: Là bệnh di truyền nghiêm trọng xảy ra ở trẻ sơ sinh cho tích tụ lượng sắt lớn trong cơ thể, gây độc và tổn thương nội tạng. Bệnh tiến triển nhanh chóng, biến chứng nguy hiểm, gây tổn hại gan, đe dọa đến tính mạng trong vài ngày đầu đời của trẻ. Trẻ mắc bệnh thường bị sinh non, lượng đường máu thấp, vàng da, phù hoặc gặp hiện tượng đông máu bất thường.

Tyrosinemia: Là rối loạn chuyển hóa di truyền, thường xuất hiện trong vài tháng đầu đời, đặc trưng bệnh là mất khả năng phá vỡ tyrosine axit amin – là thành phần quan trọng của hầu hết các protein. Bệnh khi tiến triển thường chủ yếu gây tổn hại cho gan. Biểu hiện bệnh có thể là tăng cần, tăng kích thước gan, sốt, nôn mửa, có thể ảnh hưởng đến lách, dẫn đến xơ gan.

Bệnh ứ đọng Glycogen (loại 1, 2, 3, 4): Là rối loạn enzyme di truyền hiếm gặp do cả bố và mẹ có cùng một enzyme thiếu sót, không thể sử dụng glycogen đúng cách, ảnh hưởng đến chức năng của gan, cơ bắp, do vị trí lưu trữ chính của glycogen nằm ở mô gan và cơ. Tốc độ phát triển cậm, gan to, cơ yếu, bầm tím, chuột rút, trướng bụng là những biểu hiện cần chú ý để phát hiện bệnh.

Bệnh siro niệu (MUSD): Là rối loạn di truyền gây ra tích tụ protetin. Bệnh hi có thể bị khủng hoảng trao đổi chất, tổn thương thần kinh nghiêm trọng. Kém ăn, xáo trộn giấc ngủ, mồ hôi và nước tiểu có mùi siro đặc trưng. Bệnh thường xuất hiện ở trẻ sơ sinh đến 8 tuổi.

Hoại tử gan cấn tính: Là hội chứng hiếm gặp, được gọi là suy gan cấp tính, gây tổn thương cho gan, dẫn đến suy giảm nhanh chức năng gan chỉ trong vài ngày hoặc vài tuần, có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng. Buồn nôn, nôn, sưng, đau bụng, mất phương hướng, vàng da là những triệu chứng điển hình của bệnh.

Bệnh gan do Cholestatic: Là rối loạn suy yếu mật do ống mật, tuyến tụy hoặc rối loạn gan. Bệnh nhân có thể bị ngứa, vàng da, nước tiểu sẫm màu hoặc phân nhạt.

Xơ gan bẩm sinh: Là rối loạn di truyền hiếm gặp, bệnh xuất hiện ngay từ khi sinh, ảnh hưởng đến gan, thận của trẻ. Trẻ mắc bệnh có thể mang hình dạng gan dị thường, nôn ra máu, sưng phù, có nguy cơ bị viêm ống dẫn mật.

Các bệnh gan khác cần phẫu thật ghép gan

Xơ gan vô căn: Là bệnh gan giai đoạn cuối hoặc xơ gan không hồi phục, thường phát triển ở người lớn tuổi bị xơ gan. Biểu hiện giảm cân, thèm ăn, vàng da, giãn mạch máu, mệt mỏi có thể gặp phải ở người mắc bệnh. Người bệnh có thể bị tăng huyết áp (huyết áp cao tại tĩnh mạch cung cấp máu cho gan), ung thư tế bào gan hoặc tiểu đường tuýp 2.

Xơ gan bẩm sinh: Là bệnh di truyền ở trẻ, có thể ảnh hưởng và làm suy yếu chức năng của hệ thống thận, gây ra do các ống mật phát triển bất thường, mạch máu dị dạng tại gan, ngoài ra những mô xơ hóa (sẹo mô) làm hạn chế sự di chuyển của chất lỏng trong mạch máu. Bệnh nhân mắc bệnh có thể bị giãn ống mật, vàng da, đau bụng và sốt.

Bệnh caroli: Là rối loạn bẩm sinh hiếm gặp dẫn đến giãn các ống mật do xuất hiện cái túi chứa chất lỏng hoặc hình thành các cục u trong ống dẫn mật. Bệnh sẽ dẫn đến tăng huyết áp, đau bụng hoặc sốt.

Một số xét nghiệm cần thiết để xác định cần phẫu thuật ghép gan hay không?

  • Xét nghiệm công thức máu, nhóm máu, chức năng gan và thận, đông máu, điện giải để kiểm tra mức độ nghiêm trọng của bệnh;
  • CT scan bụng và xương chậu để kiểm tra kích thước gan và khối u;
  • Siêu âm kiểm tra chức năng gan và các cơ quan xung quanh;
  • ECG và X-quang ngực để kiểm tra các chức năng và hoạt động của tim;
  • X-quang tuyến vú hoặc xét nghiệm Pap smear cho phụ nức;
  • Xét nghiệm da thông qua dẫn xuất protein tinh khiết (PPD) để kiểm tra xem bệnh nhân có nhiễm lao hay không.