ghép thận

GHÉP THẬN HAY LỌC MÁU?

Ghép thận là môt một phương pháp phẫu thuật được thực hiện trong điều kiện gây mê hoàn toàn, khi bệnh nhân buộc phải thay thế một quả thận bị bệnh bằng một quả thận khoẻ mạnh của người hiến. Một quả thận được hiến có thể thay thế chức năng của hai quả thận đã bị bệnh hoặc đã mất hoàn toàn chức năng vốn có của nó. Do đó, so với lọc máu là phương pháp lọc máu nhân tạo liên tục đối với những bệnh nhân tổn thương chức năng thận, thì ghép thận là một lựa chọn có tính lâu dài hơn.

Phẫu thuật ghép thận được sử dụng từ những năm 1950 và đã được chứng minh mang lại hiệu quả cứu sống hàng ngàn bệnh nhân mắc bệnh giai đoạn cuối. Khoảng 30% bệnh nhân bị suy thận đủ điều kiện ghép thận; tuy nhiên một số bệnh nhân không sẵn sàng hoặc không đủ điều kiện ghép thận phải lựa chọn lọc máu, đây là quá trình làm sạch máu bằng cách loại bỏ chất thải độc hại thường được thận lọc và thải ra ngoài.

Chức năng thận đầy đủ gồm những gì?

Thận là cơ quan quan trọng của cơ thể, có hình dáng giống hạt đậu, kích thước bằng khoảng một nắm tay, nằm ở hai bên cột sống, bên dưới lồng xương sườn, phía sau gan, dạ dày, tuyến tuỵ và ruột. Thận có các chức năng giúp cơ thể duy trì cuộc sống bình thường, cụ thể:

  • Sản xuất nước tiểu, vận chuyển đến bàng quang bằng đường niệu quản. Khi bàng quang đầy, nước tiệu sẽ được đưa qua niệu đạo.
  • Thận lọc máu bằng cách loại bỏ các sản phẩm dư thừa, khoáng chất, chất lỏng là các chất thải và truyền qua khi nước tiểu mang nước trở lại cơ thể.
  • Cân bằng điện giải và chất lỏng trong cơ thể.
  • Điều hoà huyết áp bằng cách giải phóng một số hormone cần thiết.
  • Kích thích tạo ra các tế bào hồng cầu bằng cách giải phóng hormone erythoropoietin.
  • Cân bằng các yếu tố và chất điện giải khác như canxi, natri và kali trong máu.
  • Sản xuất hormone cân bằng mức độ hồng cầu và huyết áp.

Điều gì xảy ra khi thận không còn hoạt động được đúng chức năng vốn có?

Khi thận không còn thực hiện được đúng chức năng của mình, chất thải có hại tích tụ trong cơ thể, gây hại cho não, tim hoặc hệ xương, dẫn đến:

  • Huyết áp cao.
  • Tích tụ chất lỏng (phù).
  • Mất cân bằng muối và axit trong máu.
  • Giảm lượng hồng cầu.
  • Xương yếu.

ghép thận

Các dấu hiệu suy thận bao gồm:

  • Sưng tay, chân và mặt (phù).
  • Nhức đầu (do huyết áp cao).
  • Động kinh.
  • Da nhợt nhạt (do mức độ sắt thấp).
  • Nước tiểu màu cà phê.
  • Hôi miệng, không thể cải thiện bằng việc đánh răng.
  • Trầm cảm, mệt mỏi, ngứa.

Khi chức năng thận suy giảm tới một mức nhất định, dẫn đến bệnh thận giai đoạn cuối hoặc suy thận, việc lọc máu hoặc ghép thận là cần thiết để duy trì sự sống.

Bệnh thận giai đoạn cuối: xảy ra khi thận không hoạt động hoặc suy giảm khoảng 90% khả năng hoạt động, các chất độc hại và chất thải tích tụ nhiều. Nguyên nhân gây bệnh có thể do:

  • Huyết áp cao mãn tính hoặc huyết áp cao không kiểm soát được.
  • Viêm tại bộ lọc của thận (viêm cần thận).
  • Bệnh thận đa nang.
  • Biến chứng tiểu đường.
  • Các vấn đề về đường tiết niệu.

Không có cách chữa trị bệnh thận giai đoạn cuối. Các chất thải tích tụ trong cơ thể cần được loại bỏ liên tục ra khỏi cơ thể bằng biện pháp lọc máu, hoặc thay vào đó, bệnh nhân cần tiến hành phẫu thuật ghép thận.

Khi nào cần phẫu thuật ghép thận?

Ghép thận được khuyên áp dụng với các bệnh nhân bệnh thận nặng, cụ thể:

  • Khi thận không hoạt động với đầy đủ các chức năng, dẫn đến tích tụ chất lỏng và chất thải, kích thước thận bị tăng lên đáng kể, có sỏi hoặc thường xuyên bị nhiễm trùng.
  • Khi mức lọc cầu thận (đo chức năng của thận) nhỏ hơn hoặc bằng 20ml/phút.
  • Khi bệnh nhân bị huyết áp cao liên tục mà không thể kiểm soát bằng thuốc.
  • Bệnh nhân không hồi phục hoặc bệnh nhân đã bước sang giai đoạn cuối.

Với những trường hợp như vậy, ghép thận có thể giúp làm giảm nguy cơ tử vong, ngoài ra, tăng cường lối sống lành mạnh cũng cho phép nâng cao chất lượng cuộc sống trong quá trình điều trị.

Tuy nhiên, một số trường hợp không đủ điều kiện phẫu thuật, cụ thể:

  • Bất kỳ tình trạng bệnh lý nghiêm trọng tiềm ẩn nào như điều trị ung thư.
  • Các trường hợp nhiễm trùng nghiêm trọng như bệnh lao, nhiễm trùng xương hoặc viêm gan.
  • Bệnh tim mạch hoặc bệnh gan nặng.
  • Hút thuốc, uống rượu hoặc sử dụng ma tuý quá mức.
  • Tuổi cao.
  • Bệnh tâm thần hoặc chứng mất trí không được kiểm soát tốt.

Phấu thuật ghép thận được thực hiện như thế nào?

Một trong hai quả thận hỏng được thay thế bằng thận của người hiến tặng. Thận mới được đặt vào cơ thể bằng cách rạch phần bên phải hoặc bên trái bụng dưới trong khung chậu mà không loại bỏ bên thận bị hỏng, trừ khi quả thận này bị nhiễm virus hoặc gây ra huyết áp cao. Thận khoẻ mạnh được vận chuyển trong môi trường nước muối mát, bảo quản trong khoảng 48 giờ. Trong giai đoạn này, bệnh nhân sẽ thực hiện các xét nghiệm máu để kiểm tra sự tương thích giữa máu và mô của người cho và người nhận. Thận mới được cấy ghép, gắn với các mạch máu, động mạch và tĩnh mạch ở bụng (phần dưới), sau đó bắt đầu cho dòng máu chảy qua thận được ghép. Niệu quản (ống nối thận với bàng quang) của thận mới được nối với bàng quang. Nếu người nhận còn nhỏ, thì các mạch máu được kết nối với động mạch lớn nhất trong cơ thể (động mạch chủ) và tĩnh mạch lớn nhất trong bụng.

Huyết áp, mạch, tim và oxy được theo dõi trong suốt quá trình phẫu thuật. Phẫu thuật ghép thận thường kéo dài trong 2 đến 3 giời. Bệnh nhân tiểu đường có thể ghép tuỵ cùng lúc với phẫu thuật ghép thận, và sẽ mất thêm khoảng 3 đến 4 giờ nữa để phẫu thuật cấy ghép đồng thời cả 2 bộ phận này.

Kỹ thuật phẫu thuật nội soi: được sử dụng ở hầu hết các trung tâm cấy ghép tại Hoa Kỳ. Bệnh nhân được gây mê toàn thân, sau đó bác sỹ sẽ rạch một đường nhỏ để đưa camera nhỏ sẽ được đưa vào bên trong cơ thể. Bác sỹ sẽ tiến hành lấy thận ra khỏi cơ thể qua một vết mổ nhỏ. Những lợi ích mà phương pháp ghép thận nội soi mang lại:

  • Quá trình phục hồi nhanh cũng như thời gian lưu viện ít hơn phương pháp thông thường;
  • Sử dụng ít thuốc hơn;
  • Ít biến chứng là phẫu thuật không đau đớn như ghép thận thông thường.

Bất kể kỹ thuật nào được sử dụng để ghép thận, người cho và người nhận cần phải được theo dõi trong thời gian dài để theo dõi sức khoẻ tổng thể cũng như chức năng thận.

Cần tiến hành xét nghiệm gì để đảm bảo bệnh nhân đủ điều kiện ghép thận?

Các xét nghiệm tâm lý và sinh lý là cần thiết để đánh giá bệnh nhân có đủ khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần có thể chịu được phẫu thuật ghép thận cũng như sẵn sàng dùng thuốc sau phẫu thuật hoặc thuốc ức chế miễn dịch suốt đời, đảm bảo cơ thể không từ chối thận được ghép. Bên cạnh đó, xét nghiệm máu, chụp X-quang, MRI hoặc CT cũng được tiến hành để đánh giá các yếu tố nguy cơ có thể gây ảnh hưởng đến sự thành công của ca phẫu thuật.

ghép thận

Điều gì sẽ xảy ra sau khi ghép thận?

  • Sau khi phẫu thuật cấy ghép, máu bắt đầu chảy qua thận mới và bắt đầu sản xuất nước tiểu, thận mới bắt đầu tự lọc máu.
  • Dùng thuốc liên tục để ngăn ngừa thải ghép nội tạng, ức chế hệ thống miễn dịch.
  • Các thuốc chống thải ghép có thể dẫn đến nhiễm trùng, do đó, bác sỹ cũng có thể kê thêm thuốc kháng khuẩn, kháng virus và chống nấm.

Rủi ro và biến chứng trong phẫu thuật ghép thận?

Ghép thận có thể điều trị bệnh thận hoặc suy thận nhưng không phải là phương pháp chữa bệnh. Phẫu thuật có thể dẫn đến những rủi ro sức khoẻ cũng như cần phải tiến hành một ca phẫu thuật khác để điều trị những vấn đề này. Các biến chứng có thể xảy ra bao gồm:

  • Một số bệnh nhân có thể tái phát sau phẫu thuật với lượng đường huyết cao, yếu xương hoặc bệnh gan.
  • Cơ thể từ chối thận hiến vài ngày hoặc vài tuần sau phẫu thuật. Hệ thống miễn dịch coi thận ghép như một vật xâm nhập từ bên ngoài, từ đó từ chối và phá huỷ thận ghép.
  • Cơ thể bị dị ứng hoặc phản ứng với gây mê toàn thân.
  • Có thể có một số tác dụng phụ nhất định của thuốc chống thải ghép hoặc thuốc ức chế miễn dịch sử dụng sau phẫu thuật.
  • Đông máu, chảy máu do tắc nghẽn niệu quản hoặc các vấn đề về hồi phục vết thương.
  • Nhiễm trùng hoặc bất kỳ loại ung thư nào cũng có thể xảy ra hoặc lây truyền từ thận hiến thặng.
  • Tử vong, đột quỵ hoặc đau tim.
  • Chảy máu, đông máu hoặc máu khó lưu thông đến thận.
  • Có vấn đề với dòng nước tiểu, rò rỉ hoặc tắc nghẽn niệu quản.
  • Nếu thận mới không bắt đầu hoạt động ngay, bác sỹ sẽ yêu cầu lọc máu để lọc chất thải hoặc thêm muối và chất lỏng từ cơ thể cho đến khi thận mới hoạt động hiệu quả.
  • Nhiễm trùng bàng quang, đau thoát vị hoặc tê dọc đùi bên trong sẽ hết dần theo thời gian mà không cần điều trị.

Các biểu hiện từ chối thận ghép?

Khoảng 30% bệnh nhân ghép thận gặp vấn đề từ chối thận ghép. Hầu hết các trường hợp từ chối xảy ra trong vòng vài tháng sau phẫu thuật, một số trường hợp có thể sau nhiều năm hoặc bất cứ lúc nào. Nếu điều trị sớm có thể đảo ngược qúa trình từ chối. Các dấu hiệu và triệu chứng từ chối bao gồm:

  • Kết qủa các xét nghiệm máu thông thường sẽ tiết lộ các dấu hiện từ chối sớm.
  • Vị trí phẫu thuật bị sưng, đỏ hoặc đau bụng.
  • Huyết áp cao cho thấy các chức năng của thận bị gián đoạn.
  • Mặt, cánh tay hoặc chân bị sưng cho thấy có sự tích tụ chất lỏng.
  • Giảm lượng nước tiểu.
  • Sốt.
  • Khó thở do ứ nước trong phổi.

Thuốc chống thải ghép hoặc thuốc ức chế miễn dịch giúp ngăn ngừa hoặc điều trị thải ghép nội tạng và được yêu cầu sử dụng suốt đời. Dừng hoặc bỏ qua các loại thuốc này khiến người nhận có nguy cơ bị từ chối cấy ghép cao. Khi thận ghép không hoạt động, thì việc lọc máu hoặc phẫu thuật lần 2 sẽ được xem xét tiến hành tuỳ thuộc vào sức khoẻ thể chất tổng thể cũng như khả năng chịu đụng một cuộc phẫu thuật nữa của bệnh nhân.

Category : Other