Ảnh hưởng của dịch COVID-19 đến lĩnh vực ung thư học

Một khảo sát quốc tế đã cung cấp nhiều thông tin về việc dịch COVID-19 đã và sẽ tác động như thế nào lên lĩnh vực ung thư học.

 

Khảo sát cho thấy “dịch COVID-19 đã có tác động to lớn đến cách tổ chức chăm sóc bệnh nhân, sức khoẻ tinh thần của những người chăm sóc, sự liên tục của công tác đào tạo y tế và các hoạt động thử nghiệm lâm sàng trong ung thư”, Tiến sĩ Guy Jerusalem từ Bệnh viện Đại học Liège (Bỉ) trình bày tại buổi hội nghị trực tuyến năm 2020 của Hiệp hội Y tế châu Âu về Ung thư.

 

Cuộc khảo sát được thực hiện bởi 20 bác sĩ chuyên khoa ung bướu từ 10 quốc gia nằm trong danh sách bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi COVID-19. Khảo sát bao gồm 95 mục nhằm đánh giá tác động của dịch COVID-19 lên việc tổ chức chăm sóc ung thư. Các câu trả lời thu được từ 109 bác sĩ ung bướu đại diện cho các trung tâm y tế ở 18 quốc gia. Các phản hồi được ghi lại trong khoảng thời gian từ ngày 17 tháng 6 đến ngày 14 tháng 7 năm 2020.

 

Các câu hỏi hướng đến các vấn đề như sức chứa và chất lượng dịch vụ tại mỗi trung tâm, nguyên nhân của sự gián đoạn dịch vụ y tế gây ra bởi dịch COVID-19, những thách thức tiếp theo phải đối mặt, các biện pháp can thiệp được thực hiện và những tác hại ước tính đối với bệnh nhân trong đại dịch.

oncology
Nguồn: Internet

109 bác sĩ được khảo sát có trung bình 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực ung thư học. Đa số người được hỏi là nam giới (61,5%), với độ tuổi trung bình là 48,5 tuổi.

 

62,4% bác sĩ tham gia khảo sát làm việc chủ yếu tại các viện y tế hàn lâm, và 29,6% tại các bệnh viện cộng đồng. 66,1% làm việc tại các bệnh viện đa khoa có khoa ung bướu 32,1% tại các trung tâm điều trị ung thư chuyên sâu. 

 

Chuyên khoa phổ biến nhất là ung thư vú (60,6%), tiếp theo là ung thư đường tiêu hóa (10,1%), ung thư cơ quan sinh dục (9,2%) và ung thư phổi (8,3%).

 

Tác động đến việc điều trị ung thư

 

Các phương thức điều trị bị ảnh hưởng bởi đại dịch (như hủy bỏ hoặc hoãn khám) bao gồm phẫu thuật (ở 34% các trung tâm y tế), hóa trị (22%), xạ trị (13,7%), liệu pháp ức chế chốt kiểm miễn dịch (9,1%), kháng thể đơn dòng (9%), và liệu pháp nhắm trúng đích điều trị các bệnh đường uống (3,7%).

 

Trong số các bác sĩ điều trị ung thư vú, các bệnh nhân bị hủy / hoãn khám rơi vào các trường hợp điều trị everolimus (18%), thuốc ức chế CDK4 / 6 (8,9%) và liệu pháp nội tiết (2,2%).

 

Nhìn chung, 34,8% bác sĩ được hỏi cho biết họ đã tăng cường sử dụng yếu tố kích thích sinh bạch cầu hạt, và 6,4% tăng cường sử dụng erythropoietin. Mặt khác, 11,1% cho biết họ đã bớt sử dụng liệu pháp miễn dịch kép, và 21,9% bớt sử dụng corticosteroid.

 

Tiến sĩ Jerusalem lưu ý rằng, tác dụng ức chế miễn dịch khi sử dụng steroid không chỉ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, mà việc ức chế sốt cũng có thể dẫn đến sự chậm trễ trong việc chẩn đoán COVID-19. “Để tránh nguy cơ xảy ra nhiễm trùng hoặc bệnh nặng hơn, chúng tôi sử dụng ít steroid hơn, nhưng điều này không được chứng minh bởi nghiên cứu”, ông cho biết.

corticosteroid
Nguồn: Internet

Solange Peters, chủ tịch ESMO đồng thời là bác sĩ, tiến sĩ, thuộc Bệnh viện Đại học Vaudois ở Lausanne (Thụy Sĩ) nhận xét: “Việc tiếp xúc với steroid trước đó hoặc tại thời điểm nhiễm COVID-19 là một yếu tố chết người, gây ra các biến chứng và dẫn đến tử vong.” 

 

Peters cũng lưu ý rằng các quan sát này được dựa trên các phát hiện về ung thư phổi. Hơn nữa, dữ liệu từ các đợt bùng phát nhỏ của các bệnh nhiễm trùng liên quan đến virus corona cho thấy tiên lượng xấu và tăng tỷ lệ tử vong cao hơn. Chính vì vậy, việc sử dụng steroid đã trở thành một mối lo ngại trong những ngày đầu của đại dịch COVID-19.

 

Cuối cùng, việc chấm dứt sớm quá trình điều trị giảm nhẹ đã được quan sát thấy ở 32,1% trung tâm, và 64,2% bác sĩ được hỏi đồng ý rằng việc ngừng điều trị vì COVID-19 là một mối lo ngại lớn.

 

Tiến sĩ Jerusalem lưu ý rằng dữ liệu khảo sát không giải thích việc chấm dứt sớm quá trình điều trị giảm nhẹ. “Tôi nghi ngờ rằng nhiều bệnh nhân đã qua đời tại nhà hơn một mình trong bệnh viện vì đó là cách duy nhất để họ có thể ra đi với gia đình xung quanh.”

oncology
Nguồn: Internet

Khám chữa bệnh từ xa, các cuộc họp và thử nghiệm

 

Khảo sát cũng cho thấy đâu là lý do bệnh nhân sử dụng dịch vụ tư vấn từ xa, bao gồm tái khám (94,5%), liệu pháp đường uống (92,7%), liệu pháp miễn dịch (57,8%) và hóa trị (55%).

 

Hầu hết những bác sĩ được hỏi chia sẻ rằng họ thường xuyên sử dụng các cuộc họp trực tuyến để không gián đoạn công tác giáo dục y tế (94%), các cuộc họp nhóm chuyên khoa ung thư (92%) và hội đồng chuyên gia (82%).

 

Trong khi khoảng 82% bác sĩ cho biết họ có thể tiếp tục sử dụng y học từ xa, 45% tin rằng hội nghị trực tuyến không phải không thể thay thế được các hội nghị quốc tế trực tiếp như ESMO, theo tiến sĩ Jerusalem.

telehealth
Nguồn: Internet

Cuối cùng, gần 3/4 bác sĩ (72,5%) chia sẻ rằng tất cả các hoạt động thử nghiệm lâm sàng sẽ sớm hoạt động trở lại, hoặc chưa bao giờ bị gián đoạn tại các trung tâm của họ. Mặt khác, 27,5% báo cáo rằng trung tâm của họ có các vi phạm hoặc sai lệch lớn về quy trình và 37% cho biết dự kiến các hoạt động thử nghiệm lâm sàng sẽ được cắt bỏ đáng kể vào năm nay.

 

Tiến sĩ Jerusalem kết luận rằng dịch COVID-19 đang có những tác động to lớn và lâu dài đến cách tổ chức chăm sóc bệnh nhân, sức khoẻ tinh thần của những người chăm sóc, sự liên tục của công tác đào tạo y tế và các hoạt động thử nghiệm lâm sàng trong ung thư.

 

Ông cảnh báo rằng “chúng ta cần cẩn thận trong việc đánh giá nguy cơ chẩn đoán chậm trễ các căn bệnh ung thư mới. Hậu quả kinh tế của dịch COVID-19 đối với việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và điều trị ung thư cũng cần được lưu tâm”.

 

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Léon Fredericq. Tiến sĩ Jerusalem có quan hệ với Novartis, Roche, Lilly, Pfizer, Amgen, Bristol-Myers Squibb, AstraZeneca, Daiichi Sankyo, AbbVie, MedImmune và Merck. Tiến sĩ Peters có quan hệ với AbbVie, Amgen, AstraZeneca, và nhiều công ty khác.

Nguồn: Jerusalem G et al. ESMO 2020, Abstract LBA76.

Bài viết này xuất hiện lần đầu trên MDedge.com, một phần của Medscape Professional Network.